Chào mừng tất cả các bạn đã đến với diễn đàn thế giới tâm linh, nơi chúng ta cùng nhau trao đổi kiến thức.
 
IndexPortalCalendarTrợ giúpTìm kiếmThành viênNhómĐăng kýĐăng Nhập
Thông báo! Thường thì thành viên, khi chúng ta đăng nhập, thì sẽ thấy tòan tiếng anh. Sau đây ai muốn vào tiếng việt thì làm theo bước sau đây. 1.Đăng nhập vào, 2. Trước hết bạn vào profle, 3. Sau đó Preferences, 4.Sau đó bạn nhìn xuống Board Language lúc đó bạn chọn Tiếng Việt. Nếu có gì thắc mắc hoặc liên quan đến kỹ thuật xin vui lòng liên hệ ban quản trị qua email: tamlinh_tk@yahoo.com.vn hoặc nick tamlinh_tk. Diễn đàn chúc quí vị có giây phút thỏai mái khi tham gia diễn đàn.
Share | 
 

 Pháp Danh và Người Phật Tử

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Tác giảThông điệp
thientam
Người Điều Hành
Người Điều Hành


Hành Kiểm: Tốt
Nam Hợi
Tổng số bài gửi: 88
Điểm: 191
Reputation: 0
Tham gia: 09/03/2010
Đến từ: Đống Nai
Nghề nghiệp: Kỹ Thuật Viên Máy Tính

Bài gửiTiêu đề: Pháp Danh và Người Phật Tử   20/3/2010, 06:01

Theo truyền thống Phật Giáo Việt Nam, mỗi khi một tín đồ phát tâm quy y Tam Bảo để chính thức trở thành đệ tử của Đức Phật, vị Bổn Sư sẽ cho một tên mới gồm có hai chữ, gọi là Pháp danh, sau khi đã thọ giới. Pháp danh của người Phật tử tại gia không có chữ Thích đi trước, mà chỉ có những chữ như Cư sĩ, Đạo hữu, Tín nữ, Phật tử … ở phía trước mà thôi. Ngoài ra, tín đồ Phật giáo cũng được đặt Pháp danh sau khi qua đời để sử dụng trong lúc cử hành tang lễ, nếu khi còn tại thế chưa quy y.

Pháp danh gồm hai chữ : -Chữ đầu: chỉ sự liên hệ đến thế hệ trong môn phái, theo chữ trong bài Kệ của Vị Tổ môn phái đó. –Chữ thứ hai: do vị Bổn sư tự chọn, dựa theo ý nghĩa tên tục (thế danh) của người đệ tử, để tạo thành một chữ kép mang ý nghĩa hay đẹp và có tính khuyến tu.

Ví dụ: đệ tử tên Mỹ. quy y với Thầy có pháp danh chữ trước là TÂM, thì chữ trước của đệ tử sẽ là chữ NGUYÊN, chữ thứ hai Thầy chọn là MÃN, tức là NGUYÊN MÃN. Lý do: chữ Nguyên theo thứ tự trong bài kệ của Ngài Tổ Liễu Quán nằm sau chữ Tâm; chọn chữ Mãn là hợp theo ý của tên Mỹ để tạo thành một chữ kép có nghĩa tu hành được tốt đẹp ( Mỹ Mãn).

Đôi khi, tên người đệ tử đã mang sẵn chữ có ý nghĩa đạo và lại phù hợp với chữ trong bài Kệ, thì Vị Bổn Sư giữ nguyên mà không cần thay đổi, hoặc giả tên không thể tìm được chữ ghép thì có thể lấy chữ trong tên của các vị La Hán, Bồ Tát v.v… để tạo thành Pháp danh.

Phật Giáo Việt Nam hiện nay đều xuất xứ từ Thiền Tông và đa số thuộc dòng Tào Động (ở miền Bắc) và, Lâm Tế (ở miền Nam). Các Long Vị của các Ngài Tổ thấy ghi là Lâm Tế, nhưng thực tế Pháp tu lại kiêm cả Tịnh Độ Tông và Mật Tông, ví dụ như, ở Huế hiện tại ít nhất cũng đang truyền thừa theo ba bài Kệ của từng vị Tổ Môn Phái xuất Kệ, các Vị này đều thuộc dòng Lâm Tế.

NHỮNG BÀI KỆ ĐƯỢC DÙNG:

• Môn phái Hải Đức (Huế) và môn phái Thập Tháp Di Đà (Bình Định) dùng bài Kệ của Ngài Thiền Sư Vạn Phong Thời Ủy:

Tổ Đạo Giới Định Tông
Phương Quảng Chứng Viên Thông
Hạnh Siêu Minh Thật Tế
Liễu Đạt Ngộ Chơn Không
Như Nhật Quang Thường Chiếu
Phổ Châu Lợi Ích Đồng
Tín Hương Sanh Phước Huệ
Tương Kế Chấn Từ Phong.
( Quý Thầy thế hệ cao nhất trong môn phái này đang ở khoảng chữ CHƠN)

• Môn phái Ngài Liễu Quán dung bài Kệ sau:

Thật Tế Đại Đạo
Tánh Hải Thanh Trừng
Tâm Nguyên Quảng Nhuận
Đức Bổn Từ Phong
Giới ĐịnhPhước Huệ
Thể Dung Viên Thông
Vĩnh Siêu Trí Quả
Mật Khế Thành Công
Truyền Trì Diệu Lý
Diễn Xướng Chánh Tông
Hạnh Giải Tương Ưng
Đạt Ngộ Chơn Không.
(Quý Thầy thế hệ cao nhất trong môn phái này đang ở chữ TRỪNG)
Hai dòng nói trên phát triển rất mạnh ở Miền Trung và Miền Nam.

• Môn phái Chùa Quốc Ân (Huế) do Tổ Nguyên Thiều lập dùng bài Kệ của Ngài Đạo Mân đời thứ 31:

Đạo Bổn Nguyên Thành Phật Tổ Tiên
Minh Như Hồng Nhật Lệ Trung Thiên
Linh Nguyên Quảng Nhuận Từ Phong Phổ
Chiếu Thế Chơn Đăng Vạn Cổ Huyền.
(Quý Thầy cao nhất trong môn phái này đang ở chữ LỆ)

• Môn phái Chùa Chúc Thánh thuộc Ngài Minh Hải Pháp Bảo (Quảng Nam Đà Nẵng) biệt xuất bài Kệ:

Minh Thật Pháp Toàn Chương
Ân Chơn Như Thị Đồng
Chuc Thánh Thọ Thiên Cửu
Kỳ Quốc Tộ Địa Trường
Đắc Chánh Luật Vi Tuyên
Tổ Đạo Hạnh Giải Thông
Giác Hoa Bồ Đề Thọ
Sung Mãn Nhơn Thiên Trung.

• Ngài Trí Thắng Bích Dung đời thứ 41 biệt xuất bài Kệ:

Trí Huệ Thanh Tịnh
Đạo Đức Viên Minh
Chơn Như Tánh Hải
Tịch Chiếu Phổ Thông
Tâm Nguyên Quảng Tục
Bổn Giac Xương Long
Năng Nhơn Thánh Quả
Thường Diễn Khoan Hoằng
Duy Truyền Pháp Ấn
Chánh Ngộ Hội Dung
Không Trì Giời Hạnh
Vĩnh Kế Tổ Tông.

• Ngài Minh Hành Tại Toại ở Miền Bắc biệt xuất bài Kệ:

Minh Chơn Như Bảo Hải
Kim Tường Phổ Chiếu Thông
Chí Đạo Thành Chánh Quả
Giác Ngộ Chứng Chơn Thường.

• Ngài Tri Giáo Nhất Cú Tông Tào Động cũng biệt xuất bài Kệ:

Tịnh Trí Viên Thông Tông Từ Tánh
Khoan Giác Đạo Sanh Thị Chánh Tâm
Mật Hạnh Nhân Đức Xương Lương Huệ
Đăng Phổ Chiếu Hoằng Pháp Vĩnh Trường.

Ba bài Kệ sau cùng này người viết chưa đủ duyên để được gặp Quý Thầy thuộc các Môn Phái đó nên không biết những chi tiết khác.
Ngoài ra, gần đây về phía Nữ Phật Tử cũng có một số được đặt Pháp Danh mang chữ DIỆU, MINH như Phật Giáo Nhật Bản, Trung Quốc v.v….

Trên đây là những điều mà cá nhân người viết đã may mắn được sự chỉ dẫn và giải thích của Quý Thầy trong thời gian học hỏi và phụ giúp về nghi lễ. Ngoài ra, trong Nghi Lễ, Pháp danh chỉ được dùng trong Sớ để tác bạch lên Chư phật và Bồ tát mà thôi, còn như các việc khác, đối với các bậc xuất gia thì có Pháp Tự, Pháp Hiệu; đối với hàng tại gia thì có Tự, Hiệu … Do đó, mà Phật Tử chúng ta rất khó biết được Pháp Danh của Quý Thầy, Quý Sư Cô.

Với sự hiểu biết rất thô thiển qua sự chỉ bày của Quý Thầy và kinh nghiệm bản thân, chắc chắn còn nhiều Môn Phái khác mà chúng tôi không biết. Chúng tôi chỉ mong người Phật tử chúng ta biết được phần nào nguồn gốc, ý nghĩa và sự liên hệ giữa Pháp Danh với chính bản thân mình trong việc tu học.

Ngưỡng mong các bậc Tôn Túc, Thiện Tri Thức chỉ dạy thêm.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
tịnh duyên
Người Điều Hành
Người Điều Hành


Hành Kiểm: Tốt
Nam Thân
Tổng số bài gửi: 308
Điểm: 495
Reputation: 26
Tham gia: 08/10/2009
Đến từ: núi châu đốc
Nghề nghiệp: làm vườn

Bài gửiTiêu đề: Re: Pháp Danh và Người Phật Tử   10/5/2010, 06:31

tùy theo ,ví dụ quy y một vị cư sỉ ,chũ lót là MINH ,pháp danh là chữ ĐỊNH thì nam được lót MINH ,nữ được lót ĐỊNH ,
như quan âm khi quy y nữ được lót DIỆU nam lót THIỆN,nên tùy theo tên của cư sỉ lót pháp danh cho đệ tử bái sư ,
----------------------------------------------
cư sỉ DIỆU ĐỊNH
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
dieungoc2552
Thành Viên Mới
Thành Viên Mới


Hành Kiểm: Tốt
Nữ Tý
Tổng số bài gửi: 6
Điểm: 8
Reputation: 0
Tham gia: 24/12/2009
Đến từ: Viet Nam
Nghề nghiệp: Sinh vien

Bài gửiTiêu đề: Re: Pháp Danh và Người Phật Tử   18/5/2010, 00:18

Nếu có pháp danh nhưng k fải do 1 nhà sư nào đặt cho cả, mà là vang vọng trong tiềm thức, trường hợp này k fải đang ngủ mà vẫn tỉnh táo-đang làm việc. có lẽ là ảo giác, nhưng những ngày sau đó cảm giác thấy thân quen với pháp danh này vô cùng, có 1 điều gì đó gắn kết giữa hiện thực và quá khứ... DN thấy trường hợpnày chưa đc bạn viết ở trên. Qua 1 thời gian dể ý, DN thấy có rất nhiều người có fáp danh do 1 người thầy bí ẩn ( k fải 1 nhà sư = xương = thịt nào cả) đặt fáp danh cho, dĩ nhiên DN đang nói đến những truờng hợp xảy ra thực mà k fải vọng ngôn.

Các bạn có thể giải thíhc rõ hơn cho mình ý nghĩa của kiểu pháp danh này k?
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
 

Pháp Danh và Người Phật Tử

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang

 Similar topics

-
» danh sách ...đang "bị truy nã"trên toàn diễn đàn
» Tạo một danh sách xác thực thay đổi theo sự lựa chọn từ một danh sách khác
» Danh sách thành viên bị kỷ luật
» Danh sách anh em DVB viếng bác Tài
» [Giúp đỡ] Danh dách Amiko SHD 8900 Trùm mền

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
Thế giới tâm linh ::  :: -